Công nghệ lọc Asen bằng kỹ thuật đồng kết tủa

Trong xử lý nước cấp, các muối của nhôm (Al2(SO4)3.18H2O), sắt (FeCl3, Fe2(SO4)3.7H2O) được sử dụng nhiều để loại cặn lơ lửng, làm trong nước. Các ion Al3+, Fe3+ thuỷ phân ngay sau khi các muối được hoà tan trong nước ở pH thích hợp tạo ra các bông cặn hydroxit.
Al2(SO4)3.18H2O = 2Al3+ + 3SO42- + 18H2O
2Al3+ + 6H2O = 2Al(OH)3 + 6H+
FeCl3 = Fe3+ + 3Cl-
Fe3+ + 3 H2O = Fe(OH)3 + 3 H+
Các bông cặn này sẽ kéo theo các hạt lơ lửng cũng như hấp phụ các ion, chất hữu cơ trong nước. Asen cũng bị hấp phụ lên các bông keo này.
H2AsO4- + Al(OH)3 Al-As (dạng phức) + các sản phẩm khác
Fe(OH)3 (rắn) + H3AsO4 FeAsO4.2H2O + H2O
FeOH + AsO43- + 3 H+ FeH2AsO4 + H2O
FeOH + AsO43- + 2 H+ FeHAsO4- + H2O
(FeOH: kí hiệu cho tâm bề mặt)

xu ly loc asen

Lọc nước nhiễm Asen

Trong điều kiện pH < 8, As(III) tồn tại ở dạng không phân ly, As(V) tồn tại ở dạng anion nên khả năng keo tụ As(III) là rất kém. Do vậy, bước ôxy hoá As(III) lên As(V) là cần thiết trước khi thực hiện quá trình keo tụ. Hiệu quả của quá trình keo tụ còn phụ thuộc vào pH của dung dịch. Khoảng giá trị pH tối ưu đối với muối nhôm là 7,2 – 7,5, với muối sắt là 6 – 8. Các nghiên cứu liên quan đến khả năng xử lý asen bằng muối của Fe3+ cho thấy ở điều kiện pH và nồng độ chất keo tụ thích hợp khả năng xử lý có thể đạt 99%. Hiệu quả xử lý của muối Al3+ thường thấp hơn và nằm trong khoảng 80 – 90%.
Ngoài ra, phương pháp làm mềm nước cũng có khả năng loại asen. Kết quả thực nghiệm của các tác giả Sorg và Logsdon cho thấy quá trình làm mềm nước loại được 90% As(V) (với nồng độ ban đầu là 0,4 ppm) ở pH = 10,5 và 70% As(III) ở pH = 11. Cơ chế loại asen được giải thích là do asen hấp phụ lên canxi cacbonat, magiê hydrôxit và có thể tạo kết tủa trực tiếp canxi asenat. Phương pháp này chỉ có thể áp dụng được đối với các nguồn nước có độ cứng cao.

Theo công nghệ lọc nước sưu tầm

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*