Quy trình xử lý nước ngầm thành nước máy sinh hoạt

Nguồn nước ngầm được khai thác từ lòng đất ở độ sâu khoảng 70 m. Do được cách li nên các thông số chất lượng nước ngầm ít biến đổi, không chịu ảnh hưởng bởi thời tiết hay các hoạt động của con người. Do tiếp xúc với các loại khoáng vật trong đất nên hàm lượng khoáng chất trong nước ngầm cao hơn so với nước mặt. Các khoáng chất phổ biến trong nước ngầm là độ cứng (Canxi + Magie), sắt, độ kiềm, một số nguồn còn ô nhiễm amoni, mangan, asen. Tuy nhiên, nước ngầm không chứa vi khuẩn có hại như nước mặt.

Hiện nay, hầu hết các nhà máy, trạm xử lý áp dụng quy trình xử lý nước cũ, công nghệ lọc nước gồm các công đoạn sau:

Nước ngầm → 1. Làm thoáng → 2. Bể tiếp xúc (hoặc lọc nổi) → 3. Bể lọc cát → 4. Sát trùng → Bể chứa nước sạch   

Nói chung, công nghệ này xử lý rất hiệu quả sắt, xử lý tốt asen khi nồng độ sắt cao và nồng độ asen không cao (hiệu quả xử lý là do asen hấp phụ trên sắt hydroxit), xử lý không hiệu quả các thông số khác như amoni, mangan, độ cứng.

quy trinh xu ly cac nha may nuoc thanh pho

Nhà máy xử lý nước mini

1.Làm thoáng

Làm thoáng có chức năng tăng cường tiếp xúc giữa nước với không khí nhằm hòa tan ôxy không khí vào nước để ôxi hóa sắt(II), tách khí CO2 nâng pH tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình  ôxi hóa sắt, và đuổi các chất dễ bay hơi như H2S, hữu cơ. Làm thoáng có thể được thực hiện thông qua sử dụng một trong các thiết bị như: giàn mưa, tháp làm thoáng, injector, máng tràn. Các thiết bị này trong quá trình vận hành thường có rất nhiều cặn sắt bám vào do vậy cần vệ sinh làm sạch định kì.

Các thông số quan trọng cần theo dõi sau giai đoạn này là hàm lượng oxy hòa tan (DO) và pH. Đây là hai thông số quyết định đến hiệu quả ôxi hóa sắt. Nước ngầm, DO thường < 1 mg/L, sau làm thoáng sẽ đạt 3 – 6 mg/L. pH của nước ngầm thường < 6,5, sau làm thoáng sẽ đạt khoảng 6,8 – 7,4. Để quá trình xử lý sắt được tốt, DO > 3 mg/L, pH > 6,8.

2. Bể tiếp xúc

Trong xử lý sắt, cặn sắt thường không lắng được trong bể lắng nếu không pha thêm phèn và vôi để có quá trình đồng keo tụ, nhưng cần có dung tích để nước chuyển động chậm trong vòng 1 giờ để hoàn thành quá trình oxi hóa và thủy phân sắt, đặc biệt cần lưu ý khi pH < 7 (vì tốc độ ôxi hóa sắt chậm khi pH < 7).

3. Bể lọc cát

Nước sau bể lắng còn chứa các hạt cặn nhỏ và rất nhỏ (là sản phẩm của quá trình ôxi hóa sắt II), khi sang bể lọc cát, các hạt cặn nhỏ bị các hạt cát chặn lại (gọi là lọc do chặn) còn các hạt rất nhỏ, lọt qua các khe hở của các hạt cát đi xuống dưới, bị dính kết vào bề mặt các hạt cát, nước được làm trong. Trong quá trình lọc, các hạt cặn bẩn tích lũy dần làm giảm kích thước các khe hở giữa các hạt cát, làm cho tổn thất thủy lực qua lớp cát lọc tăng dần lên, còn cặn thì chui dần xuống đáy lớp cát.

4. Sát trùng

Sát trùng nước là khâu cuối cùng của quá trình xử lý nước. Trong nước nguồn nhất là nguồn nước mặt luôn có chứa rất nhiều loại vi khuẩn trong đó có cả các vi khuẩn gây bệnh. Trước khi bơm nước cho người tiêu dùng cần phải diệt hết các vi khuẩn gây bệnh còn lại.

Hóa chất đang được các trạm xử lý dùng để sát trùng là dung dịch Javen (chứa clo hoạt động) hoặc Hypoclorit canxi. Để đảm bảo hiệu quả sát trùng, nồng độ clo dư trong nước cần đạt 0,3 – 0,5 mg/L.

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*